Hội thảo Công bố “Bản tin Cập nhật thị trường lao động - Số 3 năm 2014” 03-09-2014

Hội thảo Công bố “Bản tin Cập nhật thị trường lao động - Số 3 năm 2014”

Trong khuôn khổ hợp tác giữa Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội - Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tổng cục Thống kê, ngày 3/9/2014 tại hội trường Viện Khoa học Lao động và xã hội tổ chức Hội thảo Công bố “Bản tin Cập nhật thị trường lao động- Số 3, 2014”.

 Bản tin số 3 tiếp tục cập nhật các số liệu, thông tin cơ bản về thị trường lao động đó là: cung lao động; việc làm; tiền lương-thu nhập, thất nghiệp, thiếu việc làm, kết nối cung - cầu, bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp, triển vọng thị trường lao động Việt Nam.

Hội thảo diễn ra dưới sự điều hành của ông Phạm Minh Huân – Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, ông Gyorgy Janos Sziraczky - Giám đốc Văn phòng ILO tại Hà Nội, Đại diện Tổng cục Thống kê, Bà Nguyễn Thị Lan Hương – Viện trưởng Viện Khoa học Lao động và Xã hội - Trưởng Ban biên tập. Đến tham dự hội thảo có các cơ quan quản lý nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, các tổ chức quốc tế và các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Thứ trưởng Phạm Minh Huân nhấn mạnh: Nền kinh tế nước ta trong quí 2 năm 2014 tiếp tục đà phục hồi với nhiều khởi sắc, cùng với giảm sức ép về việc làm đã tác động tích cực tới kết quả thị trường lao động. Cơ cấu việc làm theo ngành có dấu hiệu chuyển dịch tích cực: tỷ trọng lao động nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng lên; tỷ trọng lao động ngành Nông-Lâm-Thủy sản giảm mạnh, tỷ trọng lao động làm công ăn lương trong tổng việc làm tăng trở lại là dấu hiệu đáng mừng; thu nhập của lao động làm công ăn lương tiếp tục ổn định; thất nghiệp giảm cả về số lượng và tỷ lệ là điểm sáng nhất của thị trường lao động... Bên cạnh những phân tích về diễn biến thị trường lao động, bản tin cũng cung cấp cho quý vị bức tranh sơ lược về triển vọng thị trường lao động trong thời gian tới.

Một số nội dung chính của Bản tin thị trường lao động số 3 năm 2014:

 

Cung lao động tăng chậm làm giảm áp lực việc làm: Trong Quí 2/2014, nguồn lao động đạt 69,3 triệu người, tăng 134 nghìn người (0,2%) so với Quí 1/2014 và tăng 361 nghìn người (0,5%) so Quí 2/2013. Lực lượng lao động (LLLĐ) đạt 53,7 triệu người, tăng 134 nghìn người so với Quí 1/2014 (0,25%) và tăng 273 nghìn so Quí 2/2013 (0,51%). 

 

Cung lao động phản ánh xu thế già hóa dân số. LLLĐ thanh niên giảm mạnh (giảm 385 nghìn người (4,84%) so Quí 2/2013; trong khi LLLĐ cao tuổi tiếp tục tăng nhanh (tăng 203 nghìn người (3,33%) so Quí 2/2013). 

 

Tỷ lệ tham gia LLLĐ duy trì ở mức 77,5%, gần như không biến động so với 2 quý trước. 

 

Chất lượng lao động còn nhiều thách thức. Lao động chuyên môn kỹ thuật (CMKT) chiếm 48% LLLĐ, tăng nhẹ so với Quí 1/2014, tuy nhiên, chủ yếu do tăng CNKT không bằng cấp/chứng chỉ. Tỷ lệ lao động CMKT có văn bằng, chứng chỉ giảm nhẹ, chỉ đạt 18.3% trong Quí 2/2014.  


Việc làm tăng chậm song cao hơn mức tăng LLLĐ tiếp tục làm giảm tỷ lệ thất nghiệp: Quí 2/2014 cả nước có 52,8 triệu người có việc làm, tăng 312,2 nghìn người (0,59%) so với Quí 1/2014 và tăng 436,1 nghìn người (0,83%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ việc làm trên dân số là 76,1%, cao hơn Q1/2014 (75,9%).  

 

Tỷ lệ việc làm nữ trong tổng việc làm tiếp tục tăng, trong khi tỷ lệ việc làm thành thị giảm nhẹ. Cơ cấu việc làm theo ngành có dấu hiệu chuyển dịch tích cực: tỷ trọng lao động nhóm ngành công nghiệp-xây dựng tăng lên; trong khi tỷ trọng lao động ngành Nông-Lâm-Thủy sản giảm mạnh là dấu hiệu đáng mừng, thì tỷ trọng lao động ngành dịch vụ giảm nhẹ cho thấy còn nhiều vấn đề; tỷ trọng lao động làm công ăn lương trong tổng việc làm tăng trở lại. 

 

Ngành “Công nghiệp chế biến, chế tạo” và “Xây dựng” phục hồi, đóng góp chính cho tăng trưởng việc làm. Tuy nhiên, việc làm khu vực kinh tế cá thể tăng mạnh cho thấy chuyển dịch cơ cấu việc làm chưa hiệu quả. 


Cân bằng cung-cầu lao động kỹ thuật chưa cân đối: Có 22 triệu người không có chứng chỉ bằng cấp đang làm những nghề đòi hỏi có CMKT, phản ánh cung lao động không đáp ứng cầu CMKT và 0,75 triệu người trình độ đại học trở lên đang làm các nghề yêu cầu CMKT thấp hơn, phản ánh cung lao động đã vượt cầu. 

 

Lao động đi làm việc theo hợp đồng có thời hạn ở nước ngoài trong Quí 2/2014 là 31,93 nghìn người (trong đó 10,96 nghìn lao động nữ), tăng 8,65 nghìn người so với  Quí 1/2014. Thị trường Đài Loan có số người đi làm việc cao nhất, với gần 19,68 nghìn người, chiếm 61,63%.

 

Thu nhập của lao động làm công ăn lương tiếp tục ổn định: Q2/2014 là 4,6 triệu đồng/tháng, giảm 0,2 triệu đồng (4,16%) so với Quí 1/2014 do lao động được thưởng Tết Nguyên đán). Thu nhập của lao động nữ  thấp hơn nam, tuy nhiên khoảng cách giảm nhẹ (95% so với 92% của Quí 1/2014). Thu nhập của lao động nông thôn thấp hơn thành thị, khoảng cách cũng giảm nhẹ (80% so với 77% của Quí 1/2014).

 

Thất nghiệp giảm cả về số lượng và tỷ lệ là điểm sáng nhất của thị trường lao động: Quí 2/2014 có 871,8 nghìn người trong độ tuổi lao động bị thất nghiệp, giảm gần 174 nghìn so với Quí 1/2014 và giảm 155 nghìn người so Quí 2/2013; 

 

Tỷ lệ thất nghiệp của cả nước là 1,84%, thấp nhất trong vòng 1 năm qua. So với Quí 1/2014, Nhóm người bị thất nghiệp không có CMKT giảm 108 nghìn người; nhóm người bị thất nghiệp có trình độ Cao đẳng giảm 17,1 nghìn người và nhóm người bị thất nghiệp có trình độ đại học trở lên giảm 15,4 nghìn người; 

 

So với Quí 1/2014, thất nghiệp thanh niên (15-24 tuổi) giảm 120 nghìn người, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên giảm xuống còn 5,09% (từ 6,66% của Quý 1/2014). Tuy nhiên, tỷ lệ người bị thất nghiệp dài hạn (từ 12 tháng trở lên) lại tăng trong Q2/2014 (14,8% so với 14,1% trong Qúi 1/2014).


Tình trạng thiếu việc làm cũng được cải thiện: Quí 2/2014,  có 1,047 triệu người thiếu việc làm (chiếm 2,25% tổng số người trong độ tuổi lao động có việc làm), giảm 243 nghìn người so với Qúi 1/2014 và giảm 116 nghìn người so với Qúi 2/2013. 


Bảo hiểm xã hội: Đến cuối Qúi 2/2014, có 11,221 triệu người đang tham gia BHXH (chiếm 23,3% LLLĐ trong độ tuổi lao động, mặc dù cao hơn của Quí 1/2014 (23,2%), cho thấy mức độ mở rộng độ bao phủ còn thấp và tăng chậm), trong đó có 11,036 triệu người tham gia BHXH bắt buộc và 185 nghìn người tham gia BHXH tự nguyện. Có 3.811.972 lượt người được giải quyết hưởng các chế độ BHXH, trong đó: 51.631 người hưởng BHXH hàng tháng, giảm 4,7% so với cùng kỳ năm 2013; 289.750 lượt người hưởng trợ cấp một lần, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm 2013; 3.162.461 lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức phục hồi sức khỏe, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước. 


Bảo hiểm thất nghiệp: Đến cuối Quí 2/2014, cả nước có 8,8 triệu người tham gia bảo hiểm thất nghiệp, bằng 78,5% số người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 200 nghìn người; 164,8 nghìn người đăng ký thất nghiệp, tăng 78,1 nghìn người; 144,6 nghìn người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, tăng 69,3 nghìn người so với Quí 1/2014; 7,3 nghìn người đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp một lần; 135,5 nghìn người được tư vấn giới thiệu việc làm, 40 nghìn người được giới thiệu việc làm, tăng 155,6% so với Quí 1/2014.

 

Kết nối cung-cầu được cải thiện: Đến cuối Quí  2/2014, đã tổ chức được 300 phiên giao dịch việc làm , tăng 30,4% so với Quí 2/2013; hơn 460 nghìn lượt lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm (tăng 27,7% so với cùng thời kỳ); có 411,9 nghìn người được giải quyết việc làm, 380 nghìn lao động được hỗ trợ tạo việc làm trong nước và 28,2 nghìn người được tạo việc làm thông qua Dự án vay vốn tạo việc làm từ nguồn Quỹ quốc gia về việc làm.

 

Triển vọng thị trường lao động: Kinh tế tiếp tục phục sẽ có tác động tích cực đến thị trường lao động. Dự kiến, nhu cầu lao động tiếp tục tăng mạnh trong các ngành công nghiệp chế biến chế tạo; sản xuất phân phối điện, khí đốt; thông tin và truyền thông; hoạt động y tế và trợ giúp xã hội. Tuy nhiên, chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc nền kinh tế vẫn là thách thức. Cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch tích cực. Tỷ lệ lao động trong nông, lâm nghiệp thủy sản giảm; tỷ lệ lao động làm công ăn lương tăng.

 

Buổi Hội thảo cũng đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp để Bản tin cập nhật thị trường lao động Việt Nam ngày một phát triển hơn, trở thành kênh thông tin hữu ích cho các nhà nghiên cứu, hoạch định chính sách về lĩnh vực lao động xã hội và cho các nhà quản lý nhà nước của Việt Nam.